Trong cuộc chiến chống ung thư ác tính, có một y sĩ như vậy, ông ấy đã lấy ống thông mảnh mai và kim chọc hút làm vũ khí, đi sâu vào những vị trí khó tiếp cận nhất trong cơ thể người dưới hướng dẫn hình ảnh, vận chuyển chính xác thuốc mang hy vọng đến trung tâm ổ bệnh. Giáo sư Liao cũng là "báu vật của cả làng" mà trong sân nhà khi về quê dịp Tết Nguyên Đán, lại dùng ánh sáng tự nhiên để giải thích từng tấm phim CT cho người dân quê một cách tỉ mỉ. Ông chính là Giáo sư Liao Zhengyin, bác sĩ trưởng chuyên khoa, chuyên gia cấp 1 của Trung tâm Ung bướu Sichuan University West China Hospital(Bệnh viện Hoa Tây), Đại học Tứ Xuyên, đồng thời là chủ nhiệm Ủy ban chuyên môn Y học Can thiệp của Hội Y tỉnh Tứ Xuyên.

Giáo sưLiao Zhengyin sinh ra trong một gia đình y thế tại Huyện Vinh, thành phố Tự Cống, tỉnh Tứ Xuyên. Ông nội của ông là bác sĩ y học cổ truyền, cha là bác sĩ chân không ở thị trấn, dòng máu “người thầy thuốc phải có lòng nhân ái” đã thấm nhuần trong con người ông từ thuở nhỏ. Năm 1985, ông thi vào Đại học Y khoa Hoa Tây, sau khi tốt nghiệp được ở lại bệnh viện làm việc nhờ thành tích học tập xuất sắc, từ đó bắt đầu mở ra sự nghiệp y khoa của mình.
Lúc đó, Y học Can thiệp mới bắt đầu phát triển tại Trung Quốc. Kỹ thuật điều trị tổn thương trực tiếp dưới hướng dẫn hình ảnh, thông qua chọc hút hoặc đưa ống thông vào cơ thể người này, đã khiến Giáo sư Liao nhìn thấy những khả năng mới. Ban ngày ông tích lũy kinh nghiệm tại lâm sàng, ban đêm lại đọc các tài liệu nước ngoài để tiếp thu kiến thức tiên tiến. Năm 1998, ông đến Trung tâm Y khoa Đại học Washington(Medical Center, University of Washington), Hoa Kỳ để nâng cao trình độ về điều trị can thiệp; Năm 2001, ông vào Bệnh viện Tổng hợp Quân đội Giải phóng Nhân dân, theo học Giáo sư Trương Kim Sơn-tiến sĩ đầu tiên trong ngành y tế phóng xạ Trung Quốc, để hoàn thành chương trình tiến sĩ sau về điều trị can thiệp. Sau đó, ông lại làm học giả thăm dò cấp cao tại Bệnh viện Hopkins và Bệnh viện Trung ương Singapore(Singapore General Hospital (SGH)), mang kiến thức tiên tiến của thế giới về khu vực Tây Nam Trung Quốc.

Trong hơn 30 năm qua, Giáo sưLiao Zhengyin chuyên sâu về điều trị can thiệp xâm lấn tối thiểu các khối u trong ung thư học. Ông thành thạo kết hợp giữa can thiệp nội mạch và can thiệp ngoài mạch để điều trị nhiều loại u lành tính và ác tính như ung thư phổi, gan, tuyến tụy, đường mật, hệ tiết niệu và ung thư xương, nhiều kỹ thuật của ông đứng đầu trong nước và quốc tế. Các bệnh lý như dị dạng mạch máu, u mạch máu, đau do ung thư, u xơ tử cũng nằm trong phạm vi điều trị của ông. Năm 2023, ông được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Ủy ban chuyên môn về Chăm sóc Giảm nhẹ trực thuộc Hiệp hội Bác sĩ tỉnh Tứ Xuyên, bắt đầu chú trọng hơn đến việc kiểm soát triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân giai đoạn cuối.
Bàn mổ của ông chính là ngọn hải đăng cuối cùng của nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã bị kết luận là “không thể phẫu thuật”. Rất nhiều bệnh nhân có khối u giai đoạn cuối, được xác định đã mất cơ hội phẫu thuật, đã nhìn thấy hy vọng trở lại nhờ Giáo sư Liao Zhengyin. Một bệnh nhân ung thư gan từng cùng người nhà chạy chữa nhiều nơi nhưng vô vọng, Giáo sư Liao dựa trên kết quả chụp CT để xây dựng phác đồ điều trị can thiệp, sau khi điều trị người nhà bệnh nhân phản hồi rằng tình trạng của bệnh nhân đã cải thiện rõ rệt. Còn một bệnh nhân ung thư gan khác, sau nhiều lần phẫu thuật can thiệp tại bệnh viện khác nhưng bệnh vẫn không kiểm soát được, sau hai lần điều trị can thiệp của Giáo sư Liao, thời gian sống thêm đã vượt quá 30 năm, hiện nay vẫn đang tái khám định kỳ tại phòng khám của ông.

Ngoài công việc ra, Giáo sư Liao Zhengyin cũng tiếp tục trì trách nhiệm của người bác sĩ bằng một cách khác. Năm 2021, ông tham gia nền tảng TikTok của Trung Quốc, chuyển những kiến thức phức tạp về can thiệp khối u thành các video ngắn phổ biến khoa học dễ hiểu, tổng số lượt thích trong một năm đã vượt quá 4,8 triệu lượt. Tại quê hương huyện Vinh, việc ông ngồi ở sân nhà đọc phim CT cho người dân quê trong dịp nghỉ Tết Nguyên Đán thăm quê đã thu hút sự chú ý rộng rãi của truyền thông. Ông nói: số khám của tôi thực sự khó đặt quá, có bệnh nhân thậm chí phải chờ một đến hai năm. Sự chờ đợi nặng nề này càng khiến Giáo sư Liao Zhengyin thêm vững bước thực hiện sứ mệnh: "Tạo nên kỳ tích, phụng sự con người"–không chỉ trong khuôn khổ phòng khám, mà còn dùng ánh sáng phổ biến khoa học để phá vỡ rào cản y học, đưa kiến thức can thiệp khối u đỉnh cao vượt qua núi sông, hướng ra thế giới, chạm đến mọi ngóc ngách khao khát sự sống.
Từ phòng khám West China Hospital đến các nền tảng Internet, từ diễn đàn học thuật quốc tế đến sân nhà quê hương, ông đã truyền tải cùng một niềm tin bằng những cách khác nhau: để những tư duy y học tiên tiến nhất có thể đến với những sinh mệnh cần nhất.

Hơn 30 năm hành nghề y, Giáo sư Liao Zhengyin đã đảm nhiêm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, cấp bộ và cấp tỉnh, cống bố 40 bài báo cáo học thuật, và nhiều lần báo cáo những kết quả mới nhất tại hôi nghị y học can thiệp trong nước và ngoài nước. Ông là Ủy viên Ủy ban Can thiệp, Ủy viên Ủy ban Hạt phóng xạ, Ủy viên Ủy ban Điều trị tiêu hủy thuộc Hiệp hội Bác sĩ Trung Quốc, Phó Trưởng nhóm Học tập Đau do ung thư trực thuộc Hội Đau-Hội Y học Trung Hoa, Chủ nhiệm Ủy ban Chuyên môn Điều trị Xâm lấn tối thiểu Khối u thuộc Hội Chống ung thư Tỉnh Tứ Xuyên, Người đứng đầu học thuật của Ủy ban y tế và kế hoạch hóa gia đình tỉnh Tứ Xuyên, Ủy viên biên tập của “Chinese Journal of Interventional Imaging”và Ủy viên biên tập của “Therapy and Chinese Journal of Pain Medicine”. Mỗi danh hiệu trong lãnh vực học thuật đều là phiếu bầu trịnh trọng mà ông đã bỏ cho lý tưởng điều trị ung thư với phương châm "chính xác, xâm lấn tối thiểu, tích hợp".
Theo số liệu thống kê, Giáo sư LIAO Zhengyin đã tổng cộng xuất bản hơn 40 bài báo khoa học, trong đó có hơn 30 bài báo với tư cách là tác giả chính hoặc tác giả liên hệ (bao gồm các bài báo SCI có hệ số ảnh hưởng cao, hệ số ảnh hưởng cao nhất đạt 10,73), ông nhiều lần báo cáo những thành tựu mới nhất tại các đại hội y học can thiệp trong nước và ngoài nước, hướng nghiên cứu của bao phủ rộng rãi điều trị can thiệp xâm lấn tối thiểu các u đặc như ung thư gan, ung thư phổi, ung thư tuyến tụy, ung thư xương, cung như ứng dụng kết hợp giữa điều trị miễn dịch, điều trị nhắm trúng đích với kỹ thuật can thiệp. Ngoài ra, ông còn đảm nhiệm vai trò phó chủ biên của hai bộ chuyên khảo.
1. ZENG Zhu, LIAO Zhengyin. Application of Immune Checkpoint Inhibitors in the Treatment of Advanced Hepatocellular Carcinoma. West China Medical Journal, 2020, 35(2): 230-235.
Giáo sư Liao Zhengyin đảm nhiệm vai trò tác giả liên hệ. Bài báo này tổng quan một cách có hệ thống những tiến bộ trong ứng dụng của các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ví dụ tiêu biểu là PD-1/PD-L1 và CTLA-4) trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn muộn, bao gồm thực trạng nghiên cứu lâm sàng và chiến lược điều trị kết hợp. Bài báo chỉ ra rằng, mặc dù liệu pháp nhắm trúng đích đã kéo dài thời gian sống thêm toàn bộ của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, nhưng hiệu quả tổng thể vẫn chưa được lý tưởng. Sự ra đời của liệu pháp miễn dịch đã mang lại một viễn cảnh hoàn toàn mới. Bài báo đã tổng hợp và phân tích các dữ liệu lâm sàng hiện có, cung cấp cơ sở tham khảo lý luận cho sự chuyển đổi lâm sàng của các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn muộn.
2. ZENG Zhu,YANG Biao, LIAO Zhengyin. Biomarkers in Immunotherapy-Based Precision Treatments of Digestive System Tumors. Frontiers in Oncology, 2021, Volume 11.
Giáo sư Liao Zhengyin đảm nhiệm vai trò tác giả liên hệ. Bài báo này tập trung vào việc sàng lọc và đánh giá các dấu ấn sinh học trong liệu pháp miễn dịch đối với các khối u thuộc hệ tiêu hóa(ví dụ như:ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư tế bào gan). Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù mức độ biểu hiện PD-L1 được coi là một dấu ấn sinh học tiềm năng để dự đoán hiệu quả của liệu pháp miễn dịch, nhưng chỉ dựa vào một chỉ số đơn lẻ khó phân biệt một cách hiệu quả giữa những bệnh nhân đáp ứng và những bệnh nhân không đáp ứng. Bài báo tiếp tục thảo luận về triển vọng ứng dụng của nhiều dấu ấn sinh học như gánh nặng đột biến khối u(TMB), tính không ổn định vi vệ tinh(MSI) và DNA khối u tuần hoàn(ctDNA) trong điều trị chính xác, đồng thời nhấn mạnh tính cần thiết và tính khả thi của việc đánh giá tiêu chuẩn hóa các dấu ấn hiện và khám phá các dấu ấn mới.
3. YANG Biao, LUO Jie, YANG Ting, CHEN Mingyang, GAO Yuemei, ZHANG Tian, ZHANG Yuzu, WU Hao, LIAO Zhengyin. TACE Plus Lenvatinib Versus TACE Plus Sorafenib for Unresectable Hepatocellular Carcinoma With Portal Vein Tumor Thrombus: A Prospective Cohort Study. Frontiers in Oncology, 2021, Vol 11.
Giáo sư Liao Zhengyin là đồng tác giả (đứng sau trong danh sách, nhưng là thành viên nòng cốt của nhóm nghiên cứu). Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu này đã tuyển chọn các bệnh nhân nhập nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 9 năm 2020, tiến hành so sánh hiệu quả điều trị giữa phác đồ thuyên tắc hóa trị qua động mạch gan (TACE) kết hợp lenvatinib và phác đồ TACE kết hợp sorafenib đối với bệnh nhân ung thư gan tế bào không thể cắt bỏ kèm huyết khối ung thư tĩnh mạch cửa. Kết quả cho thấy, sau khi ghép cặp theo điểm xu hướng, thời gian sống thêm toàn bộ trung vị của nhóm TACE kết hợp lenvatinib là 18,97 tháng, tốt hơn đáng kể so với nhóm kết hợp TACE với Sorafenib là 10,77 tháng (HR = 2,21; khoảng 95% CI: 1,12–4,38; p = 0,022), Thời gian sống không tiến triển trung vị cũng được kéo dài có ý nghĩa thống kê (10,6 tháng so với 5,4 tháng, HR = 2,62; p = 0,002), tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) lần lượt là 66,8% và 33,3% (p = 0,037). Kết luận cho thấy, phác đồ TACE kết hợp lenvatinib vượt trội có ý nghĩa so với phác đồ TACE kết hợp sorafenib ở cả ba chỉ số: thời gian sống thêm toàn bộ (OS), thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR).
4. YANG Biao, LIANG Jie, QU ZiYu, YANG FangYun, LIAO ZhengYin, GOU HongFeng. Transarterial Strategies for the Treatment of Unresectable Hepatocellular Carcinoma: A Systematic Review. PLoS ONE, 2020, 15(2): e0227475.
Giáo sư Liao Zhengyin là đồng tác giả (xếp thứ năm). Tổng quan hệ thống này đã tìm kiếm và phân tích một cách toàn diện các chiến lược điều trị qua đường động mạch đối với ung thư biểu mô tế bào gan không thể cắt bỏ, bao gồm TACE cổ điển, TACE với vi cầu giải phóng thuốc(DEB-TACE) và thuyên tắc xạ trị qua động mạch(TARE), từ đó tổng hợp và so sánh hiệu quả điều trị, chỉ dịnh cũng như độ an toàn của các phương thức kỹ thuật khác nhau. Bài báo được công bố trên tạp chí PLoS ONE, cung cấp cơ sở tham khảo dựa trên bằng chứng cho việc ra quyết định lâm sàng trong điều trị can thiệp ung thư gan.
5. KAN XF, LIANG B, ZHANG XL, YU L, LUO YC, ZHOU S, LIU RB, XU GH, LI HL, LIAO ZY, et al. Transarterial Chemoembolization Plus Apatinib for Unresectable Hepatocellular Carcinoma: A Multicenter, Randomized, Open-Label, Phase III Trial. BMC Medicine, 2025, 23(1): 313.
Giáo sư Liao Zhengyin tham gia với tư cách đồng tác giả. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở này nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phác đồ TACE kết hợp apatinib trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan không cắt bỏ được, nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí y học tổng hợp hàng đầu BMC Medicine (có hệ số ảnh hưởng cao), cung cấp bằng chứng y học dựa trên cơ sở mức độ cao cho việc kết hợp can thiệp nội mạch và liệu pháp nhắm trúng đích trong điều trị ung thư gan.
6. Liao Zhengyin, Zhang Jinshan. Percutaneous Splenic Artery Embolization Therapy for Traumatic Splenic Rupture Experiment Study. Doctoral dissertation, China PLA General Hospital Postgrad Medical College, 2004.
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả đầu tiên. Nghiên cứu này sử dụng mô hình lợn nhỏ thực nghiệm, tiến hành quan sát có hệ thống hiệu quả điều trị của kỹ thuật thuyên tắc thân chính động mạch lách qua da đối với vỡ lách do chấn thương. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian cầm máu của nhóm thuyên tắc ngắn hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (P < 0,05), trong nhóm không thuyên tắc có hai con tử vong do xuất huyết, nhóm thuyên tắc không có trường hợp tử vong nào; sau thuyên tắc, huyết áp trong nhánh động mạch lách giảm từ 168 mmHg xuống 35 mmHg, chênh lệch 133 mmHg. Kiểm tra mo bệnh xác nhận sau thuyên tắc không thấy nhồi máu ở vùng lách bình thường, diện vỡ lách được lấp đầy bởi mạc nối lớn và lành lại. Kết luận cho thấy thuyên tắc thân chính động mạch lách qua đường can thiệp là một phương pháp xâm lấn tối thiểu hiệu quả để điều trị vỡ lách độ II–IV, đồng thời không gây nhồi máu lách.
7. LI Jun, LIAO Zhengyin, YOU Xin, et al. Clinical Application of Transcatheter Arterial Injection of Spongia Gelatinosa and Iodized Oil Emulsion to Treat Hepatocellular Carcinoma with Arteriovenous Fistula. West China Medical Journal, 2009, 24(5): 1193-1195.
Giáo sư Liao Zhengyin là đồng tác giả. Nghiên cứu này bao gồm 38 bệnh nhân ung thư gan kèm rò động về tĩnh mạch mức độ nặng, nhằm đánh giá tính khả thi và giá trị lâm sàng của phương pháp tiêm hỗn hợp bột xốp gelatin-lipiodol qua ống thông động mạch gan. Kết quả cho thấy tỷ lệ bít tắc trên chụp mạch sau thuyên tắc là 94,7% (36/38), tỷ lệ tái thông sau 4 tuần chỉ 5,56% (2/36), không ghi nhận tác dụng không mong muốn rõ ràng, tỷ lệ sống của bệnh nhân trong 6 tháng là 94,7%, trong12 tháng là 60,5%,trong 24 tháng là 21,1%. Kết luận cho thấy phương pháp này an toàn và đáng tin cậy, tỷ lệ thuyên tắc cao, tỷ lệ tái thông thấp, mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt đối với rò động về tĩnh mạch trong ung thư gan.
8. Liao Zhengyin, You Xin, Pu Ji, et al. Percutaneous Osteoplasty for the Treatment of Tumour Bone Metastasis Pain. Chinese Journal of Pain Medicine, 2011, (12):16-20.
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả đầu tiên. Bài báo này tổng quan có hệ thống quá trình phát triển và tiến triển ứng dụng của kỹ thuật tạo hình xương qua da trong điều trị đau do di căn xương khối u. Bài viết chỉ rằng, kể từ khi Galibert và cộng sự lần đầu báo cáo tạo hình thân đốt sống qua da điều trị đau do u mạch máu cột sống vào năm 1987, kỹ thuật này đã nhanh chóng được phổ biến và từng bước mở rộng sang điều trị ung thư di căn cột sống và các khối u ác tính thân đốt sống. Luận văn đã hệ thống hóa và tổng kết một cách có hệ thống nguyên lý, chỉ định và hiệu quả lâm sàng của kỹ thuật.
9. You Xin, Liao Zhengyin, Teng Haoqi. CT-guided Percutaneous Ganglion Impar Block and Neurolysis for the Treatment of Sacrococcygeal Pain. Journal of Interventional Radiology (Peking University Core Journal, CSTPCD), 2012, (8).
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả thứ hai(đồng tác giả liên hệ). Nghiên cứu này bao gồm 18 bệnh nhân bị đau vùng xương cùng cụt dai dẳng kháng trị do các bệnh lý lành tính và ác tính khác nhau, được thực hiện phong bế và phá hủy hạch thần kinh lẻ dưới hướng dẫn của CT, đồng thời theo dõi định kỳ để đánh giá mức độ giảm đau. Kết quả cho thấy:27,8% bệnh nhân giảm đau hoàn toàn sau can thiệp, 72,2% giảm đau một phần; 8 bệnh nhân được can thiệp giảm đau lần thứ hai sau 2 tuần, sau lần can thiệp thứ hai có 2 bệnh nhân giảm đau hoàn toàn. Kết luận cho thấy kỹ thuật phong bế và phá hủy hạch thần kinh lẻ dưới hướng dẫn CT qua da trong điều trị đau vùng xương cùng cụt dai dẳng kháng trị là an toàn, đáng tin cậy, hiệu quả rõ rệt và xứng đáng được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.
10. Xu Hongming, Yang Haijun, Guo Wenhao, You Xin, and Liao Zhengyin. The Clinical Observation of the Analgesic Effect of Percutaneous Vertebroplasty for the Spinal Metastatic Adenocarcinoma. Chinese Journal of General Practice, 2016, 14(2):330-332.
Giáo sư Liao Zhengyin giữ vai trò tác giả liên hệ. Nghiên cứu này đưa vào 84 bệnh nhân di căn cột sống do các loại ung thư biểu mô tuyến nguyên phát khác nhau, đã được xác nhận bằng giải phẫu bệnh. Dưới hướng dẫn của DSA hoặc CT, các bệnh nhân được thực hiện tạo hình thân đốt sống qua da (PVP), với lượng xi măng xương được bơm vào từ 1,5–5,0 ml; số lượng đốt sống phẫu thuật dao động từ 1–6 đốt. Kết quả cho thấy điểm VAS giảm từ (6,48 ± 1,77) trước phẫu thuật xuống còn (2,75 ± 1,52) sau phẫu thuật (P < 0,01); tỷ lệ đau nhẹ/trung bình/nặng trước phẫu thuật lần lượt là 3/33/35 bệnh nhân, sau phẫu thuật tương ứng là 57/11/3 bệnh nhân (P < 0,01). Kết luận xác nhận rằng PVP (nong tạo hình thân đốt sống qua da) là phương pháp điều trị hiệu quả đối với ung thư biểu mô tuyến di căn cột sống, giúp giảm sử dụng thuốc giảm đau và tăng cường khả năng tự chăm sóc bản thân của bênh nhân.
11. Fu Xiaobo, Yang Biao, and Liao Zhengyin. One Case of Effective Interventional Therapies for the Treatment of Breathing Difficulty Caused by Advanced Hepatocellular Carcinoma with Hilar and Mediastinal Lymph Node Metastasis. West China Medical Journal, 2017, 32(12): 2000-2002.
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả liên hệ. Bài báo này báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 32 tuổi mắc ung thư biểu mô tế bào gan, sau ghep gan, bệnh nhân vẫn xuất hiện tái phát tại chỗ mặc dù đã dùng Sorafenib đường uống. Sau khi được điều trị bằng TACE, bệnh nhân tiếp tục xuất hiện di căn hạch rốn phổi hai bên và hạch trung thất. Biểu hiện lâm sàng gồm ho khan rõ rệt và khó thở thì hít vào( độ bão hòa oxy máu giảm xuống còn 85%). Nhóm nghiên cứu của Giáo sư Liao đã thực hiện kỹ thuật nút mạch hóa chất qua động mạch gan(TACE) kết hợp với vi cầu mang thuốc để tiến hành nút mạch hóa chất động mạch phế quản hai bên và động mạch vú trong, sau khi điều trị, triệu chứng khó thở của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt. Trường hợp này cho thấy, giá trị lâm sàng đặc biệt của can thiệp nội mạch trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn muộn có kèm di căn phức tạp.
12. Zhao Jian, and Liao Zhengyin. The Status Quo and Prospect of Interventional Therapies for the Treatment of Caudate Lobe Hepatocellular Carcinoma. The Chinese Journal of Interventional Imaging and Therapy, 2017, 14(8):513-516.
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả liên hệ. Bài báo này tổng quan về những tiến triển mới nhất trong điều trị can thiệp đối với ung thư biểu mô tế bào gan thùy đuôi gan. Do cấu trúc giải phẫu của thùy đuôi gan phức tạp và nguồn cấp máu đa dạng, phương thức điều trị đối với tổn thương tại vị trí này từ lâu vẫn còn nhiều tranh luận. Bài báo trình bày một cách hệ thống hiện trạng ứng dụng của nhiều kỹ thuật như TACE, tiêm cồn tuyệt đối qua da (PEI) và tiêu hủy khối u qua catheter trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) thùy đuôi gan, đồng thời phân tích ưu điểm, hạn chế và chỉ định của từng kỹ thuật, qua đó cung cấp tài liệu tham khảo học thuật cho điều trị can thiệp đối với ung thư gan ở vị trí đặc biệt này.
13. Wu Zetao, Liao Zhengyin, Xie Xiaodong, and Wang Chaohua. The Clinical Application of CT-guided Percutaneous Pediculoplasty for the Treatment of Osteolytic Metastatic Tumour of the Pedicle. Journal of Practical Radiology (ISTICPKU), 2007, 23(7).
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả thứ hai. Nghiên cứu này tiến hành điều trị bằng tạo hình cuống sống qua da dưới hướng dẫn CT đối với 23 tổn thương di căn hủy xương tại cuống sống trong 18 bệnh nhân(bao gồm: 3 trường hợp ở cột sống ngực và 15 trường hợp ở cột sống thắt lưng). Sau phẫu thuật, tất cả các trường hợp đều ghi nhận giảm đau ở các mức độ khác nhau. Có 7 trường hợp xi măng sinh học bị rò rỉ ra ngoài, trong đó: 1 trường hợp xuất hiện lượng nhỏ xi măng rò vào ống sống nhưng không gây triệu chứng chèn ép thần kinh, và 1 trường hợp xuất hiện triệu chứng rễ thần kinh, sau khi được điều trị triệu chứng bằng liệu pháp chống phù nề, các triệu chứng đã biến mất sau 3 ngày. Kết luận cho thấy kỹ thuật này là phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu, an toàn và hiệu quả đối với đau do tổn thương di căn hủy xương tại cuống sống gây ra, đồng thời giúp tăng cường độ ổn định của cột sống.
14. Liao Zhengyin, Zhang Jinshan, Xiao Yueyong, Yu Sen, and Li Jiakai. CT-guided Percutaneous Chemical Ablation Therapy for the Treatment of Abdominal Lymph Node Metastatic Lesions. The Chinese Journal of Interventional Imaging and Therapy, 2004, 1(2): 108-110.
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả đầu tiên. Nghiên cứu này đưa vào 15 bệnh nhân di căn hạch lympho ổ bụng do ung thư, dưới hướng dẫn CT, bệnh nhân được chọc kim qua da để tiêm vào các hạch lympho phì đại hỗn hợp nhũ tương gồm Lipiodol siêu hóa lỏng kết hợp doxorubicin hydrochloride + carboplatin/gemcitabine.Theo dõi sau điều trị từ 1 đến 13 tháng cho thấy, không có trường hợp nào xuất hiện biến chứng trong hoặc sau phẫu thuật. Tỷ lệ giảm đau đạt 100%, tỷ lệ hết đau là 20%, thể tích các hạch bạch huyết giảm rõ rệt.Kết luận cho thấy, hóa tiêu hủy qua da dưới hướng dẫn CT là một phương pháp mới khả thi và hiệu quả trong điều trị các tổn thương di căn hạch lympho ổ bụng.
15. Liao Zhengyin, and Min Pengqiu. The Status Quo and Prospect of Vascular Interventional Neuroradiology. Sichuan Yixue, 2000, 21(9).
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả đầu tiên. Bài báo này tổng quan những tiến triển nghiên cứu và tình hình ứng dụng của can thiệp thần kinh X-quang mạch máu, bao gồm các lĩnh vực như điều trị tiêu huyết khối can thiệp đối với tổn thương thiếu máu cục bộ, nong tạo hình mạch máu bị hẹp và cầm máu nội mạch. Bài báo chỉ ra rằng nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây, phạm vi điều trị của ngành can thiệp thần kinh học mạch máu không ngừng đuọc mở rộng và hiệu quả ngày càng hoàn thiện, đây là một trong những bài tổng quan hệ thống ban đầu trong lĩnh vực này.
16. Li Kaiming, and Liao Zhengyin. The Status Quo and Prospect of the Interventional Therapies for the Treatment of Acute Hemorrhagic Necrotising Pancreatitis. Sichuan Yixue, 2000, 21(9).
Giáo sư Liao Zhengyin là tác giả thứ hai(được trích dẫn 5 lần). Bài viết này tổng quan hiện trạng và triển vọng phát triển của điều trị can thiệp đối với viêm tụy cấp thể xuất huyết hoại tử, đồng thời thảo luận giá trị ứng dụng của các kỹ thuật can thiệp như truyền thuốc động mạch vùng trong điều trị tổng hợp viêm tụy nặng, đây là một bài luận thăm dò ban đầu về chiến lược điều trị can thiệp trong lĩnh vực này –73.
17. Relevant clinical report: Using NanoKnife Ablation Therapy for the Treatment of Tumours in Speical Anotomical Sites
Giáo sư Liao Zhengyin đã dẫn dắt nhóm của mình thực hiện thành công ca điều trị đầu tiên tại khu vực phía Tây tại Trung Quốc, sử dụng dao nano (điện xung không hồi phục-IRE) sản xuất trong nước để tiêu hủy khối u ác tính ở gan. Sau phẫu thuật, Giáo sư Liao Zhengyin chỉ ra rằng dao nano đặc biệt thích hợp để điều trị các khối u ở những vị trí tập trung nhiều dây thần kinh và mạch máu quan trọng như vùng rốn gan, kỹ thuật này có thể bảo tồn thần kinh và mạch máu, đồng thời sở hữu những ưu thế đặc thù so với các phương pháp tiêu hủy xâm lấn tối thiểu thông thường, mở ra hướng tiếp cận kỹ thuật mới cho điều trị chính xác các khối u tại vị trí giải phẫu đặc biệt.
Theo thoong tin từ trang web chính thức của Sichuan University West China Hospital(Bệnh viện Hoa Tây, Đại học Tứ Xuyên), Giáo sư Liao Zhengyin đã áp dụng đường tiếp cận giữa bao động mạch cảnh và động mạch đốt sống để điều trị thành công cho một nhóm bệnh nhân di căn đốt sống cổ đoạn cao. Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt, ít biến chứng, độ khó của kỹ thuật này đạt trình độ hàng đầu trong và ngoài nước. Các dữ liệu điều trị liên quan đã được công bố vào năm 2013 trên tạp chí đau nổi tiếng quốc tế Pain Physician (hệ số ảnh hưởng 10,722).
“Spinal Interventional Therapies” và “The Interventional Therapy for Pain of Neck and Back”. Giáo sư Liao Zhengyin đảm nhận vị trí phó chủ biên của hai cuốn chuyên khảo, trong đó hệ thống trình bày hệ thống kỹ thuật chẩn đoán và điều trị can thiệp xâm lấn tối thiểu đối với các bệnh lý đau cột sống và vùng cổ và thắt lưng, đây là những tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực y học can thiệp tại Trung Quốc, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chuẩn hóa của chuyên ngành điều trị đau bằng can thiệp.